Con số thất nghiệp này chắc chưa phải là con số cuối cùng nhưng khoan hãy bàn tới con số, cái người lao động cần là những chính sách cụ thể của Nhà nước và chính quyền địa phương để cứu làng nghề, đưa làng nghề “vượt bão”. Không có việc làm, đời sống gia đình sẽ khó khăn, sức mua sẽ giảm, ảnh hưởng đến các mặt hoạt động văn hoá- xã hội khác. Vậy lối ra nào cho tình hình hết sức bức bách này?
Trao đổi với chúng tôi, ông Lưu Duy Dần, Phó Chủ tịch - Tổng thư ký Hiệp hội làng nghề Việt Nam cho biết: “Hệ thống làng nghề Việt Nam bắt đầu khởi sắc từ khi gia nhập WTO. Năm 2007, cả nước có 2.017 làng nghề, tới năm 2009, làng nghề đã phát triển thành 2.790 làng nghề truyền thống, giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động. Trong đó có cả những người già, thương binh, người tàn tật, trẻ em và lao động lúc nông nhàn.
Ngay cả giới thanh niên-nguồn lực chủ chốt cũng có thể bị mất việc tại các làng nghề |
Năm 2008, kim ngạch của làng nghề ước đạt khoảng 850 triệu USD. Nhưng hiện nay, khó khăn của các làng nghề ngày càng thể hiện rõ do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế toàn cầu. Thị trường của các làng nghề bị thu hẹp lại, nhiều hợp đồng đã ký nay buộc phải hủy bỏ vì khách hàng không có khả năng thanh toán. Sức tiêu thụ trên thị trường trong nước cũng giảm sút nặng nề. Các sản phẩm làm ra không có nơi tiêu thụ, các làng nghề đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề nhức nhối, đi cùng với đó là nguy cơ hàng chục vạn lao động nông thôn có thể mất việc làm.
Nhiều làng nghề đã làm ăn rất phát đạt trong những năm qua nhờ ký được các hợp đồng xuất khẩu. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, không chỉ các hợp đồng mới khó tìm kiếm được, mà các hợp đồng đã được ký kết còn có thể bị hủy bỏ hoặc bị dãn tiến độ. Không ít làng nghề trong thời gian qua đã dần thoát ly sản xuất nông nghiệp, nay lại phải cố gắng quay về với nghề nông “truyền thống” nhưng đáng tiếc là chẳng còn mấy đất nông nghiệp để canh tác”.
Từ khi gia nhập WTO, làng nghề truyền thống Việt Nam đã phát triển mạnh. Có những làng nghề thất truyền nay được khôi phục, còn làng nghề cũ được phát triển mạnh hơn.
Hiện nay, cả nước có 52 nhóm nghề, sau khi Hà Tây sát nhập vào Hà Nội thì Hà Nội hiện có 47 ngành nghề. Tuy nhiên, tới thời điểm này, việc giải quyết việc làm và giữ gìn làng nghề đang là mối quan tâm của các cơ quan chức năng.
Hiệp hội đã thống kê, hiện có khoảng 60% doanh nghiệp làng nghề đang phải cầm cự, 20% đang “thoi thóp”. Họ có thể sẽ phá sản nếu không có sự hỗ trợ kịp thời từ các cơ quan chức năng trong thời gian tới.
Cùng với đó là 6 khó khăn lớn nhất của họ mà ông Dần đã nêu ra như sau: Hạn chế trong tiếp cận nguồn vốn, thị trường chưa phát triển do mẫu mã chậm cải tiến, công nghệ lạc hậu, diện tích sản xuất nhỏ hẹp, thiếu nhân lực có trình độ cao và vấn đề ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất.
Không chỉ thế, các làng nghề còn đang đứng trước yêu cầu tạo thêm việc làm cho một lực lượng lao động không nhỏ chạy về từ thành thị do tình hình khó khăn chung, chi tiêu đắt đỏ, công việc không ổn định, họ buộc phải trở về quê để kiếm làm việc.
Số người mất việc tại các khu chế xuất, khu công nghiệp trở về với gia đình ở nông thôn không chắc tìm được việc làm, lý do là vì nhiều nơi đất đai canh tác rất ít. Trong thời kỳ nông nhàn, nhiều nông dân còn bắt buộc phải di cư đến các đô thị để tìm kiếm thêm thu nhập, thì việc làm ở những miền quê như vậy là không có sẵn.
 |
Những lao động thủ công tại các làng nghề có thể sẽ thiếu việc trầm trọng |
Trong khi đó, tình trạng nguyên liệu tại chỗ ngày càng cạn kiệt, phải nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất khiến cho các làng nghề càng dễ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài như biến động về giá cả thị trường.
Thiếu vốn là vấn đề lớn nhất không chỉ của các làng nghề mà còn là vấn đề nan giải chung của các doanh nghiệp khó khăn hiện nay. Dù Nhà nước đã có những biện pháp hỗ trợ như giải ngân, giảm lãi suất, lùi thời hạn vay vốn, nhưng đến nay vẫn chỉ là giải pháp trước mắt chứ chưa giải quyết được triệt để, nguy cơ tình trạng này còn nghiêm trọng hơn vào năm tới.
Hiện tại, nông thôn nói chung và các làng nghề truyền thống đang phải hứng chịu một lực lượng lớn lao động thất nghiệp. Người thất nghiệp ngay tại chính làng nghề, một lực lượng lớn lao động thất nghiệp từ các khu công nghiệp, khu chế xuất…
Điều này đã làm xáo trộn cuộc sống vốn dĩ yên bình của làng quê, sự du nhập của các nền văn hóa khác tràn vào tạo nên một mối nguy cơ tiềm ẩn về sự mất an ninh trật tự tại địa phương.
Để giảm thiểu gánh nặng thất nghiệp làng nghề, các cơ quan chức năng cần phải nghiên cứu và giải quyết đầu ra cho vấn đề sản phẩm làng nghề.
Trước tiên, cần kêu gọi người tiêu dùng nên ưu tiên sử dụng hàng Việt. Người sản xuất đồng thời cũng phải chú trọng tới chất lượng và mẫu mã sản phẩm khi đưa sản phẩm ra thị trường.