 |
| Nông sản Việt có nguy cơ mất chỗ đứng trên "sân nhà" |
Tại cuộc họp tổng kết 3 năm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) mới đây, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng cho biết, chỉ 20% doanh nghiệp tận dụng được lợi thế về thuế quan, xuất xứ hàng hóa. Điều này cho thấy tác động của WTO đối với Việt Nam vẫn chưa thể hiện rõ. Tuy vậy, chúng ta cũng rút ra được nhiều bài học bổ ích, từ đó thay đổi để hội nhập tốt hơn.
Vẫn chưa chuẩn bị tốt cho hội nhập
Cuộc khủng hoảng kinh tế thời gian qua đã làm lộ rõ những yếu kém của nền kinh tế như sức cạnh tranh của hàng Việt thấp; khả năng đáp ứng và thiết lập các tiêu chuẩn kỹ thuật trong xuất -nhập khẩu hàng hóa, năng lực của các cơ quan trong việc kiểm soát hàng nhập khẩu còn yếu... Bên cạnh đó, khủng hoảng như một cảnh báo sớm đối với quá trình hội nhập. Những khó khăn này không xảy ra bây giờ thì cũng sẽ xảy ra trong tương lai bởi sau khi giảm thuế, các nước dựng lên nhiều hàng rào kỹ thuật nhằm ngăn chặn hàng nhập khẩu để kích thích sản xuất trong nước.
Năm 2007 và 2008, Việt Nam đã thực hiện cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu thịt cao hơn cả mức cam kết và nhanh hơn mức cam kết theo lộ trình, cho dù trước đó khi đàm phán, Việt Nam đã nỗ lực để nâng được mức thuế suất lên cao hơn cho nhóm mặt hàng này nhằm bảo vệ ngành chăn nuôi trong nước. Do phải bảo đảm nguồn cung thịt và thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, được dự đoán sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi đợt rét đậm, rét hại cuối năm 2007 và đầu năm 2008 cũng như kiềm chế lạm phát nhưng ngay sau khi thuế nhập khẩu giảm, các sản phẩm thịt gia cầm đua nhau tràn vào Việt Nam, gây áp lực lên ngành chăn nuôi trong nước, trong đó chủ yếu là các hộ gia đình, trang trại chăn nuôi gia cầm ở khu vực nông thôn. Hậu quả của chính sách này là nhiều người nuôi gia cầm phá sản, trong khi người tiêu dùng phải sử dụng thịt đông lạnh kém chất lượng. Sự việc này cho thấy các cơ quan chức năng khá lúng túng trong việc điều chỉnh thuế lẫn xây dựng các hàng rào kỹ thuật.
Ở một số lĩnh vực khác mà sản xuất trong nước có thế mạnh như quần áo, giày dép, thực phẩm..., hàng ngoại cũng được nhập về ồ ạt và chúng ta chỉ giật mình khi có thông tin quần áo nhiễm chất độc hại. Đây là một thực tế cho thấy, Việt Nam vẫn chưa chuẩn bị tốt nhất cho quá trình hội nhập. Những năm qua, hàng xuất khẩu của Việt Nam luôn bị tác động bởi các hàng rào phi thuế quan của các nước, nhưng ngược lại, ở trong nước chúng ta có quá ít tiêu chuẩn kỹ thuật để hạn chế nhập khẩu và kiểm soát chất lượng hàng nhập khẩu. Khi gia nhập WTO, nhiều người tiêu dùng kỳ vọng sẽ có cơ hội được tiếp cận và sử dụng nhiều mặt hàng giá, rẻ chất lượng cao nhưng điều đó không có nghĩa là chất lượng hàng không thể kiểm soát được. Chính vì vậy, việc rà soát và xây dựng hàng rào kỹ thuật đối với nhiều ngành hàng hiện nay là hết sức cần thiết, nhằm bảo vệ người tiêu dùng cũng là bảo vệ nền sản xuất trong nước.
Nông sản mất chỗ đứng trên "sân nhà"?
Cho đến nay, chưa có bằng chứng nào cho thấy tăng trưởng xuất khẩu trong những năm qua là do chúng ta tận dụng được những ưu đãi mà việc gia nhập WTO đem lại. Xuất khẩu nông sản tăng trong năm 2008 chủ yếu do sốt giá. Năm 2009, nhiều doanh nghiệp có thêm thị trường mới do chịu áp lực bán hàng nhiều hơn là tận dụng cơ hội giảm thuế hay mở cửa của các thị trường. Hiện, các doanh nghiệp vẫn làm theo quán tính, chưa tận dụng được cơ hội từ WTO đem lại do thiếu thông tin. Thời gian qua Chính phủ cũng như báo chí thường đưa thông tin cam kết của Việt Nam với nước ngoài nhưng không thấy đưa các cam kết của các nước khác đối với Việt Nam.
Tiếp xúc với một số doanh nghiệp xuất khẩu chè sang Trung Đông, họ nói nếu biết là theo cam kết WTO, các thị trường này giảm thuế nhập khẩu hàng từ Việt Nam thì họ đã đưa vào trong việc thương thuyết hợp đồng. Điều đó cho thấy thông tin đến với doanh nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế.
Ông Phạm Quang Diệu, Giám đốc Trung tâm Thông tin (Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn) cho biết: “Lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nhưng chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và bất động sản do những ưu đãi đầu tư vào nông nghiệp chưa đủ hấp dẫn. Hệ quả là ngành nông nghiệp thiếu vốn đầu tư theo chiều sâu, không có công nghiệp chế biến nên nông sản của Việt Nam chủ yếu xuất khẩu dưới dạng thô, sức cạnh tranh thấp”.
Theo lộ trình, thời gian tới Việt Nam tiếp tục mở cửa thị trường bán lẻ, ngành nông sản trong nước sẽ bị ảnh hưởng khi các nhà phân phối nước ngoài tham gia vào lĩnh vực này. Khi gia nhập WTO, người ta hy vọng việc giảm thuế sẽ làm giảm giá một số sản phẩm, đặc biệt là thực phẩm. Tuy nhiên, người tiêu dùng Việt Nam vẫn phải chịu một mức giá cao trong thời gian qua. Thể hiện rõ nhất là việc giảm thuế ngành sữa và các sản phẩm từ sữa.
Các thị trường như New Zealand, Hoa Kỳ, Australia, Hà Lan đã tận dụng được cơ hội cắt giảm thuế quan của Việt Nam theo cam kết để tăng giá trị xuất khẩu họ vào thị trường Việt Nam, nhưng ngược lại giá bán trong nước vẫn liên tục bị đẩy lên cao. Điều đáng lo ngại là khi mở cửa cho hệ thống bán lẻ thì họ sẽ nhanh chóng chiếm lĩnh ngành hàng này do tiềm lực tài chính mạnh mẽ và kỹ năng quản lý cao. Kết hợp với việc giảm thuế nhập khẩu, các nhà bán lẻ sẽ đưa nông sản từ bên ngoài vào thay vì lựa chọn hàng trong nước nếu thấy lợi hơn.
Ngay tại các siêu thị Việt Nam hiện tại, nông sản trong nước cũng quá khó để chen chân. Nếu không nhanh chóng đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu thì e rằng nông sản Việt Nam sẽ nhường dần chỗợ đứng ngay trên “sân nhà”.
Trần Trọng Triết