Đặc điểm văn hoá, kiến thức bản địa và chiến lược sinh kế của đồng bào các dân tộc thiểu số tại Dakrong, Quảng trị
TS. Hoàng Mạnh Quân, GĐ TT
I. Đặt vấn đề
Đakrong là một huyện miền núi của Quảng Trị với hơn 80% là đồng bào dân tộc thiểu số (chủ yếu là Vân Kiều và Pacoh). Do đặc điểm văn hoá và phong tục tập quán khác nhau nên mỗi dân tộc có những kiến thức bản địa và cách thực hành canh tác riêng. Vì vậy, hiểu đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán, kiến thức bản địa và tương tác giữa chúng với các hoạt động sinh kế (SK) của người dân là rất cần thiết để xác định các hoạt động sinh kế bến vững (SKBV) nhằm cải thiện đời sống cho đồng bào. Đề tài này được tiến hành nhằm: (i) xác định thực trạng về đặc điểm văn hóa, kiến thức bản địa và SK truyền thống của người dân ở Đakrong, và (ii) Đề xuất hoạt động SKBV và phù hợp với điều kiện của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở ở địa phương.
II. Phương pháp nghiên cứu
- Chọn điểm nghiên cứu: Hai xã với 2 vị trí địa lý và 2 nhóm dân tộc khác nhau đã được chọn để nghiên cứu nhằm mục đích so sánh SK truyền thống của cùng một nhóm dân tộc (Vân Kiều) ở 2 điều kiện sinh thái khác nhau và SK của 2 nhóm (Vân Kiều và Pacoh) trong cùng một điều kiện sinh thái (cùng một vùng). Xã Mò Ó có gần 100% dân số là đồng bào Vân Kiều, ở gần trung tâm huyện đại diện cho vùng thấp và A Bung với 85% là dân tộc Pacoh; 8,5% là Vân Kiều ở vùng núi cao đã được chọn để tiến hành nghiên cứu này.
- Thu thập số liệu: Thu thập các số liệu thứ cấp có liên quan và thu thập số liệu sơ cấp bằng các phương pháp: PRA (phỏng vấn sâu những người nòng cốt, phỏng vấn nhóm theo chuyên đề); Phương pháp điền giã dân tộc học và phương pháp hồi cố; Phương pháp chuyên gia; Phỏng vấn bằng bản hỏi với tổng số 80 hộ của 2 nhóm dân tộc (40 hộ/nhóm/xã).
III. Kết quả và thảo luận
3.1. Đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán và tác động của nó tới các hoạt động SK của người dân
Kết quả điều tra cho thấy, đồng bào Vân Kiều và Pacoh ở Dakrong có nhiều đặc điểm văn hoá về cư trú, nhà cửa, các thiết chế xã hội, quan hệ giới, tính cách trong ứng xử cộng đồng và các đặc điểm về văn hoá tinh thần khác,... giống như các dân tộc thiểu số khác ở miền Trung. Những đặc điểm này tác động khá nhiều đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và SK của đồng bào ở cả hai mặt tích cực và hạn chế. Hiểu rõ những đặc điểm văn hoá của đồng bào sẽ góp phần cải thiện hoạt động SK cho người dân địa phương.
Một số đặc tính tốt cần phát huy là: Truyền thống yêu lao động, cần cù, chịu khó, tính cộng đồng cao, ý thức đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau, ... Đó sẽ là những cơ sở, điều kiện cho việc thực hiện các hoạt động SK mới. Tinh thần lạc quan, lòng trung thành, sự dũng cảm và truyền thống lão quyền (đề cao vai trò của già làng), ... là rất quan trọng trong thúc đẩy các hoạt động cộng đồng. Tính sở hữu cộng đồng, ví dụ: cách thức quản lý đất đai theo thôn làng và cách bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng ma, rừng thiêng,... là những kinh nghiệm quý giúp quản lý tốt đất đai và bảo vệ tài nguyên môi trường. Cần phải vận dụng các giá trị văn hóa này để phát triển các hoạt động SKBV cho người dân.
Tuy nhiên, cũng cần khắc phục và xoá bỏ những phong tục tập quán không còn phù hợp với xu thế hiện nay như: Lối canh tác chỉ dựa vào tự nhiên (trồng trọt không bón phân, tưới nước, chăn nuôi không cần chuồng trại,...); Tính bảo thủ, bình quân, tự cung tự cấp, khép kín; Tính thụ động và thực dụng chỉ quen sống dựa vào tự nhiên để khai thác mà không có ý thức hoặc không biết quản lý và tái tạo tài nguyên; .... Từ những điểm hạn chế này, trong xây dựng hoạt động SKBV cho đồng bào cần lưu ý:
• Do trình độ học vấn thấp, tỷ lệ mù chữ và tái mù cao, thiếu kiến thức về các kỹ thuật mới, chỉ quen làm ăn theo kinh nghiệm là chính, ... sẽ gặp khó khăn khi tiếp nhận các hoạt động SK mới. Vì vậy đòi hỏi phải có sự kết hợp tốt giữa kinh nghiệm địa phương và kiến thức khoa học mới.
• Quá coi trọng người già và vai trò của đàn ông sẽ làm giảm khả năng sáng tạo của giới trẻ, không lôi cuốn được lớp trẻ, phụ nữ tham gia vào các hoạt động SK.
• Tập quán thích đông con sẽ tạo nên những áp lực về mặt dân số và xã hội.
• Tập quán sản xuất tự cung, tự cấp, không xem lao động là hàng hóa sẽ gây khó khăn cho việc phát triển hoạt động thị trường sản phẩm để tăng giá trị lợi nhuận của sản xuất.
• Các đặc tính khép kín, dân tộc, cộng đồng, bình quân thụ động, bảo thủ, thực dụng sẽ có nhiều hạn chế trong quá trình phát triển hoạt động SKBV.
Những đặc tính đó ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển của đồng bào và cũng là nguyên nhân của sự nghèo đói. Điều tra về nguyên nhân nghèo đói ở 2 xã nghiên cứu, kết quả được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1: Nguyên nhân nghèo đói và chậm phát triển ở 2 xã điều tra
n = 80 hộ
|
TT |
Nguyên nhân nghèo đói |
Phần trăm người trả lời (%) |
|
Mò ó |
A Bung |
|
1 |
Thiếu đất đai |
50 |
40 |
|
2 |
Thiếu vốn |
80 |
85 |
|
3 |
Thiếu kỹ thuật |
75 |
70 |
|
4 |
Nhận thức thấp |
90 |
90 |
|
5 |
Không có kế hoạch trong chi tiêu |
60 |
70 |
|
6 |
Cơ sở hạ tầng yếu kém |
40 |
40 |
|
7 |
Ít được giao lưu, học hỏi |
85 |
90 |
|
8 |
Sinh đẻ nhiều, hay đau ốm |
50 |
80 |
|
9 |
Thiếu lao động |
30 |
25 |
Nguồn: số liệu điều tra, 2005
3.2. Kiến thức bản địa của cộng đồng người Vân Kiều và Pacoh
Đồng bào Vân kiều và Pacoh đã trải qua thời gian sinh tồn và phát triển gắn liền với tự nhiên nên đã tích luỹ và hình thành được nhiều tri thức bản địa quí trong sản xuất và đời sống.
a) Kiến thức bản địa trong quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên: Chủ yếu là những kiến thức về canh tác trên đất dốc cũng như kinh nghiệm trong việc chống xói mòn, rửa trôi và giữ độ phì đất, bảo vệ nguồn nước bằng cách giữ rừng đầu nguồn thông qua các luật tục của làng bản...
b) Kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp: Kinh nghiệm quan sát bầu trời, cây cỏ để dự báo thời tiết, trong chọn giống cây trồng, vật nuôi (qua các đặc điểm về hình dáng và màu sắc), trong chăm sóc bảo vệ và chữa bệnh cho cây, con và các kinh nghiệm trong luân canh, xen canh, .... Kết quả nghiên cứu cho thấy, đàn ông của cả 2 nhóm có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất hơn phụ nữ, và đồng bào Vân Kiều có tới 17 loại, nhiều hơn người Pacoh chỉ có 9 loại kinh nghiệm quí trong sản xuất nông nghiệp.
c) Kinh nghiệm sử dụng cây hoang dã để chữa bệnh
Kết quả khảo sát cho thấy kinh nghiệm sử dụng các cây thuốc chữa bệnh cũng rất khác nhau giữa hai nhóm dân tộc. Người Vân Kiều biết 40 loài cây và động vật hoang dã để chữa bệnh nhiều hơn so với người Pacoh chỉ biết 19 loài. Nam giới biết ít hơn phụ nữ về các kinh nghiệm trong chữa bệnh.
Ngoài những kinh nghiệm về chữa bệnh, đồng bào còn biết nhiều loại cây có thể làm thức ăn cho người và gia súc và các kinh nghiệm này cũng khác nhau giữa các dân tộc, giữa nam và nữ. Phụ nữ của cả 2 dân tộc biết 30 loại cây dùng làm thức ăn cho người và 4 loại cây làm thức ăn cho vật nuôi, trong khi nam giới chỉ biết 17 và 2 loại, tương ứng.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hiện tại các chương trình/dự án phát triển ở địa phương hầu như chỉ quan tâm đến việc giới thiệu các kiến thức mới, ít chú ý đến việc lồng ghép các kiến thức bản địa trong các hoạt động của dự án, do vậy hiệu quả của các chương trình, dự án còn hạn chế. Để phát triển bền vững cho đồng bào cần phải nghiên cứu để bảo tồn và nhân rộng các kiến thức bản địa và cùng với việc giới thiệu các kiến thức mới. Các chương trình/dự án cần lồng ghép, sử dụng các kiến thức bản địa trong từng hoạt động cụ thể.
3.2. Các hoạt động SK của đồng bào Vân Kiều và Pacoh
3.2.1. Hoạt động SK truyền thống
Hoạt động SK truyền thống của 2 nhóm dân tộc ở 2 xã nghiên cứu khá đa dạng và có nhiều loại hình khác nhau nhưng không khác nhau nhiều giữa hai dân tộc. Các hoạt động SK ở đây mang tính chất của sản xuất đồi núi, chủ yếu là tự cấp, tự túc, sản xuất nhờ trời, không có đầu tư cả về kỹ thuật cũng như sự chăm sóc của người dân do vậy năng suất rất thấp và ít chú ý đến bảo vệ tài nguyên. Do vậy đã đẩy nhanh quá trình xói mòn, rửa trôi và thoái hoá đất. Các hoạt động SK chủ yếu là: Trồng trọt (với cây trồng chính là lúa rẫy, ngô, sắn, chuối), chăn nuôi và các hoạt động phi nông nghiệp như khai thác lâm sản, dệt zèng, ... Phương thức chủ yếu là canh tác nương rẫy với các hoạt động phát, đốt cốt, trỉa và các công cụ sản xuất thô sơ, hoặc thả rông (với chăn nuôi gia súc). Người dân hầu như không có khái niệm về thị trường, một số gia đình vẫn đang sử dụng hình thức trao đổi bằng hiện vật, hoặc đôi khi vẫn còn xin, cho sản phẩm làm ra. Những phong tục này là một trong những yếu tố kìm hãm sự phát triển của sản xuất. Tập quán quá chú trọng đến sản xuất lúa rẫy nhằm mục đích tự cung tự cấp đã dẫn đến sản xuất kém hiệu quả và làm tăng sự suy thoái tài nguyên.
3.2.2. Sự thay đổi của các hoạt động SK dưới tác động của các yếu tố bên ngoài
Hiện nay, do tác động của các chương trình/dự án, hoạt động SK truyền thống của người dân cũng đang có sự thay đổi. Một số cây, con và các kỹ thuật mới đã được đưa vào sản xuất và đã có những tác động tích cực như tăng năng suất lao động, tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho đồng bào. Các hoạt động mới là: sản xuất lúa nước, được giới thiệu từ những năm 1970, nhưng do khó khăn về địa hình và điều kiện tự nhiên nên khả năng sản xuất lúa nước không lớn. Sản xuất ngô lai, lạc và các loại đậu đỗ, mới có khoảng 10 năm nay và đây là các cây trồng mang lại nguồn thu đáng kể cho các gia đình. Ngoài ra còn một số loại cây trồng khác như cây ăn quả (cam, chanh, bưởi, nhãn, xoài) và cây công nghiệp (cà phê, tiêu) mới được các dự án giới thiệu nhưng thực tế hiệu quả không cao, vì chất lượng thấp (cây ăn quả) và tiêu thụ khó khăn (cả 2 loại). Việc sản xuất các loại cây trồng mới cũng đã giúp cho bà con có thêm kiến thức về luân canh, xen canh và bố trí cây trồng theo mùa vụ. Chăn nuôi là hoạt động có thay đổi nhiều nhất, phần lớn các hộ đã nuôi gia súc trong chuồng, sử dụng các giống lai (lợn) trong chăn nuôi, có ý thức trong phòng và trị bệnh cho gia súc và đặc biệt một số hộ đã trồng cỏ để nuôi bò. Nói chung các hoạt động sản xuất nông nghiệp đã có những thay đổi nhất định do sự tác động của các chương trình/dự án trong thời gian gần đây. Tuy nhiên những thay đổi đó chưa được áp dụng trong toàn dân, một số hoạt động còn ở dạng các mô hình thử nghiệm, chưa được nhân rộng ra sản xuất.
Một số hoạt động khác như dệt zèng đã có tác động tích cực trong việc tạo việc làm cho phụ nữ, đa dạng hoá và tăng thu nhập. Trên địa bàn xã Mò Ó có nuôi ong, làm nấm v.v.. Tuy nhiên, hầu hết các mô hình này đều không thành công do người dân không được tư vấn về kỹ thuật.
Cùng với việc giới thiệu các hoạt động mới, các dự án đã giúp nâng cao kiến thức về thị trường. Do vậy, người dân đã quen dần với mua bán bằng tiền. Tuy nhiên, kiến thức thị trường và tiêu thụ sản phẩm rất khác nhau giữa 2 xã do sự khác biệt về vị trí địa lý. Ở xã A Bung, phần lớn các sản phẩm nông nghiệp được tiêu thụ thông qua trung gian, vì người dân ở đây chưa có kinh nghiệm trong tiêu thụ sản phẩm và chưa có chợ. Ở xã Mò Ó, do gần huyện nên người dân đã bắt đầu có kinh nghiệm trong tiêu thụ sản phẩm và ít phụ thuộc vào thương nhân.
Những thay đổi về hoạt động SK kể trên chủ yếu là do các chương trình và dự án mang lại. Tuy nhiên, các dự án ở hai xã cũng có nhiều tồn tại, đó là: Thiếu sự lồng ghép, phối hợp với nhau, gây nên chồng chéo, làm cho người dân rối hoặc quá tải trong việc tiếp nhận. Một số dự án khi xây dựng chưa chú ý tới điều kiện của địa phương, đặc điểm văn hóa của dân tộc nên không thu được kết quả .
3.3. Một số giải pháp nhằm tăng cường tính bền vững của các hoạt động SK tại địa phương
3.3.1. Đối với các vấn đề về văn hoá
- Cần chú ý tới các phong tục tập quán và các đặc điểm văn hóa của đồng bào trong xây dựng hoạt động SKBV cho họ. Thực tế cho thấy lực cản của sự phát triển hiện nay không phải là do điều kiện tự nhiên mà là những điều kiện về con người. Do vậy cần lưu ý các hoạt động nhằm tác động vào con người để tạo nên sự phát triển, nhất là ở các lĩnh vực sau:
• Nâng cao năng lực: Đây là giải pháp quan trọng nhất và có thể thực hiện thông qua việc xóa mù, chống tái mù, khuyến khích con em đến trường, mở các lớp bổ túc văn hóa, tăng cường tập huấn, tham quan,... Trong tập huấn cần phải phù hợp dễ hiểu, thể hiện bằng các mô hình cụ thể, sinh động và phải lặp đi lặp lại nhiều lần.
• Kết hợp một cách hài hòa cả hai hình thức quản lý: Quản lý truyền thống (theo luật tục) và bộ máy chính quyền địa phương (theo luật pháp Nhà nước). Hầu hết ý kiến của người dân cho rằng vai trò của hai bộ máy tổ chức đó quan trọng như nhau (kể cả trên lĩnh vực sản xuất). Vì vậy, các chương trình và DA phát triển nên lôi cuốn họ vào việc tổ chức thực hiện và giám sát các hoạt động phát triển.
• Tôn trọng và lưu ý những đặc điểm văn hóa tốt đẹp (truyền thống lão quyền, tính cộng đồng, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, tích cực chịu khó trong lao động, ...). Duy trì và phát huy những phong tục tập quán, những lễ hội có giá trị. Đồng thời cũng cần vận động bà con tổ chức các lễ cúng, cưới xin, ma chay đơn giản hơn để giảm bớt chi tiêu quá mức, một nguyên nhân dẫn đến sử dụng không có kế hoạch các sản phẩm làm ra dẫn đến thiếu ăn.
3.3.2. Đối với kiến thức bản địa
Việc lồng ghép các kiến thức bản địa trong phát triển các hoạt động SK là hết sức cần thiết. Để làm được điều đó, cần lưu ý:
• Ghi nhận, tư liệu hoá và nhân rộng các kinh nghiệm của đồng bào về sản xuất và đời sống. Đó là cơ sở cho việc đưa những giống cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện địa phương và giúp cho các cán bộ định hướng được những giống cây trồng vật nuôi có giá trị.
• Trước khi triển khai các hoạt động sản xuất và chuyển giao kỹ thuật cần xem xét kỹ các kiến thức bản địa và vận dụng chúng vào điều kiện cụ thể của từng hoạt động.
3.3.3. Đối với việc xác định các hoạt động SK mới
Việc xác định hoạt động SKBV cho đồng bào cả hai nhóm dân tộc trên cả 2 xã cần chú trọng các hoạt động sau:
Chăn nuôi bò và dê: Chăn nuôi bò và dê (chủ yếu là ở Mò Ó) là một lợi thế của địa phương, tuy nhiên, kết quả điều tra cho thấy phương thức nuôi chủ yếu là quảng canh và chăn thả tự do trên rẫy. Phương thức này hiện tại không còn phù hợp do chủ trương giao đất khoán rừng ngày càng triệt để. Hơn nữa, do nguồn thức ăn khan hiếm và chất lượng không cao, giống địa phương nên năng suất chăn nuôi thấp và thu nhập của người dân không cao. Do vậy giúp cho người dân chuyển đổi phương thức nuôi (bán thâm canh, nhất là nuôi bò), chuyển giao các kỹ thuật về giống, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trừ dịch bệnh sẽ là cần thiết để nâng cao hiệu quả của chăn nuôi bò tại địa phương.
Chăn nuôi lợn (chủ yếu là ở Mò Ó): Đây là một hoạt động SK truyền thống. Tuy nhiên, thu nhập từ hoạt động này không cao do chất lượng con giống thấp, trình độ chăn nuôi lạc hậu, phương thức tận dụng, quảng canh, ... Do vậy cần giúp người dân nâng cao trình độ, chuyển giao các kỹ thuật mới nhằm tận dụng các nguồn thức ăn sẵn có để nâng cao năng suất chăn nuôi.
Canh tác trên đất dốc: Mặc dầu năng suất rất thấp nhưng những hoạt động canh tác trên đất dốc vẫn phải tiến hành, vì đây không chỉ là hoạt động SK mà còn là văn hoá của người dân địa phương. Hơn nữa, do địa hình hạn chế nên không có thể mở rộng diện tích đất nông nghiệp ở vùng thấp. Do vậy, hoạt động này cần phải duy trì và phát triển với sự kết hợp của các kỹ thuật mới về canh tác đất dốc như mô hình SALT, giới thiệu cách dùng phân chuồng và phân xanh. Nghiên cứu tìm ra giống mới phù hợp với năng suất cao hơn. Hoạt động canh tác đất dốc không nên chú trọng vào cây lúa như hiện nay mà chỉ nên duy trì diện tích lúa vừa phải để tạo lương thực. Ngoài ra, nên tăng cường các cây trồng hàng hoá có lợi nhuận cao hơn như chuối, ngô,...
Trồng cây lâm nghiệp: Phát triển lâm nghiệp được coi là hoạt động có ý nghĩa rất lớn trên cả 3 mặt: kinh tế, xã hội (tạo việc làm) và môi trường (tăng độ che phủ). Tuy nhiên, hoạt động này đòi hỏi chu kỳ kinh doanh dài nên người dân (nhất là các hộ nghèo) khó có khả năng đầu tư. Đất rừng chưa giao cũng có thể là sự rủi ro cho quyền sử dung và hưởng lợi của họ. Vì vậy, khả năng thành công sẽ cao hơn nếu người dân được trao quyền sử dung đất và được hỗ trợ vốn vay với lãi suất thấp và thời gian hoàn trả dài.
Sản xuất rau xanh (ở Mò Ó): Cũng như nhiều địa phương khác ở miền núi, bà con dân tộc Vân kiều ở xã Mò Ó thường sử dụng các loại rau mọc sẵn trên rẫy để bổ sung vào bữa ăn của gia đình. Phần lớn các loại rau này có chất lượng dinh dưỡng thấp. Tập quán ít sử dụng rau trong khẩu phần ăn hoặc sử dụng các loại rau có giá trị dinh dưỡng thấp là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng suy dinh dưỡng cao trong trẻ em trên địa bàn xã. Trong khi đó, do phân bố dọc theo sông Đakrông nên một số thôn trong xã (Phú Thiềng, Ba Rầu) có một diện tích bãi bồi ven sông có khả năng sản xuất rau xanh (ngay cả trong mùa khô). Do vậy cần phát triển hoạt động này ở những thôn có điều kiện.
Ngoài ra một số hoạt động sản xuất như trồng lúa nước, lạc, đậu xanh và ngô lai rất cần thiết phải duy trì vì đây là các hoạt động có thu nhập khá cao. Tất cả các hoạt động trên nên được tiến hành theo cách: Tập trung nâng cao kiến thức và năng lực cho người dân, chuyển giao các kỹ thuật mới thông qua các mô hình trình diễn và dùng mô hình để tổ chức các hội nghị đầu bờ hoặc các lớp tập huấn trên đồng ruộng theo lối "cầm tay chỉ việc" bằng chính tiếng nói của người địa phương.
Hoạt động dệt DZèng: Phát triển hoạt động này nhằm: (i) Tạo việc làm cho chị em phụ nữ; (ii) Góp phần tăng thu nhập; (iii) Góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc và văn hoá truyền thống. Hiện nay, hoạt động này đã được mở tại thôn Cu Tài 1 và chưa gặp khó khăn gì trong việc tiêu thụ sản phẩm.
3.3.4. Các biện pháp về quản lý
Để có thể phát triển sản xuất, tạo việc làm và từng bước nâng cao thu nhập cho người dân, việc thực hiện các giải pháp về quản lý và sự hỗ trợ từ phía chính quyền các cấp là rất cần thiết. Một số giải pháp về quản lý cụ thể là: Cấp quyền sử dụng đất cho người dân, dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp và công tác khuyến nông. Hiện nay mạng lưới khuyến nông ở huyện Đakrong chưa thực sự phát triển. Để có thể giúp người dân phát triển sản xuất hiệu quả, một số giải pháp về khuyến nông là: Tổ chức tốt hệ thống khuyến nông đến tận xã và thôn; Lồng ghép hoạt động khuyến nông với hoạt động của các tổ chức đoàn thể quần chúng như hội nông dân, phụ nữ, cựu chiến binh, đoàn thanh niên; Đào tạo cán bộ khuyên nông là người địa phương; Sản xuất các tài liệu khuyến nông bằng tiếng của đồng bào thiểu số; Lồng ghép hoạt động khuyến nông với hoạt động của các dự án phát triển ở địa phương.
Về vấn đề thị trường: Do những đặc điểm về văn hoá và phong tục tập quán nên đồng bào Pacoh và Vân Kiều gần như không có thói quen buôn bán, trao đổi hàng hoá. Kinh nghiệm và kiến thức thị trường của họ rất hạn chế. Sản phẩm làm ra bị tư thương ép giá làm cho bà con đôi khi chán nản không muốn sản xuất. Vì vậy, cần hỗ trợ cung cấp thông tin thị trường, tập huấn kiến thức về thị trường cho người dân và đặc biệt là dịch vụ đầu ra để tạo thị trường sản phẩm ổn định. Đây chính là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương.
IV. Kết luận và đề nghị
(1) Đồng bào Vân Kiều và Pacoh ở Dakrong có nhiều đặc điểm văn hoá, những đặc điểm này tác động cả tích cực và tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đề nghị: cần phải chắt lọc những đặc tính tốt, đồng thời tìm cách loại bỏ những đặc điểm lỗi thời, lạc hậu trong quá trình phát triển và XĐGN cho đồng bào.
(2) Đồng bào Vân kiều và Pacoh có nhiều tri thức bản địa quí trong sản xuất và đời sống. Những kiến thức này là rất cần thiết để xác định và phát triển các hoạt động SKBV cho người dân. Cần bảo tồn và nhân rộng các kiến thức bản địa và kết hợp tốt với các kiến thức mới trong từng hoạt động cụ thể.
(3) Hoạt đông SK truyền thống của người Vân Kiều và Pacoh gồm nhiều loại hình nhưng không khác nhau nhiều giữa 2 dân tộc, chủ yếu mang tính chất của sản xuất đồi núi, năng suất rất thấp. Hiện nay, do tác động của các chương trình/dự án nên các hoạt động SK truyền thống của người dân đang có sự thay đổi. Một số cây, con và các kỹ thuật mới đã được đưa vào sản xuất và đã có những tác động tích cực đến sản xuất và thu nhập của đồng bào, ... Tuy nhiên, cũng có nhiều hoạt động không thành công, chủ yếu là do việc xác định các kỹ thuật và phương pháp chuyển giao không phù hợp, không chú ý đến những điều kiện thực tế của người dân.
(4) Về hoạt động SK của người dân: Cần kết hợp nhiều hoạt động với các loại cây trồng, vật nuôi, sản xuất lâm nghiệp, một số hoạt động phi nông nghiệp,... Để thành công cho các hoạt động này nên xây dựng các mô hình trình diễn về kỹ thuật. Sau đó dùng mô hình để tổ chức các lớp hội thảo, tập huấn tại đồng ruộng theo kiểu "cầm tay chỉ việc". Đồng thời cần phải có sự hỗ trợ tích cực về tổ chức và quản lý, cũng như phát triển các dịch vụ, nhất là dịch vụ về kỹ thuật, vốn và thị trường.
ABSTRACT
The research was implemented in 2 communes of Mo O and Abung, Dakrong district, Quang Tri province. It aimed at studying culture, customs and indigenous knowledge as well as their interacts towards livelihoods so as to find out sustainable livelihood activities for ethnic peoples of Van Kieu and Pacoh.
The results showed that ethnic peoples of Van Kieu and Pacoh in Dakrong owned a lot of precious indigenous knowledge and many cultural characteristics which have both negative and positive impacts to livelihood activities of local people. Local traditional livelihoods are being changed due to impacts of development programs/projects. However, some new livelihood activities were not successful since they did not pay proper attention to local practical conditions. The sustainable livelihood is proposed as a combination of agriculture, forestry and non-agriculture. Concurrently, there should be positive supports of management, services, especially techniques, fund and market.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Xuân Hồng. Kinh nghiệm quản lý hệ sinh thái nhân văn ở vùng người Vân Kiều. Tạp chí khoa học - công nghệ và công nghệ Thừa Thiên Huế , số 2/1997.
2. Trần Đình Lý và cộng sự. Xây dựng mô hình cải tạo và sử dụng hợp lý đất trống đồi núi trọc ở Bắc Trung Bộ. Trong “Phát triển kinh tế-xã hội vùng gò đồi Bắc Trung Bộ – Những mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ. Chủ biên: GS. Đặng Ngọc Dinh, KS. Nguyễn Văn Phú. Hà nội: Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2002.
3. Nguyễn Văn Mạnh và cộng sự. Luật tục của người Tà ôi, Cơ tu, Vân Kiều ở Huế. Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2000.
4. Hoàng Mạnh Quân, Trương Quang Hoàng. Một số kinh nghiệm trong việc thực hiện dự án cộng đồng người dân tộc Cơ tu tại xã Thượng Long huyện Nam Đông. Báo cáo tại hội thảo về phát triển vùng gò đồi Thừa Thiên Huế do Đại học Nông Lâm Huế tổ chức, 2000.
5. Lê Anh Tuấn. Tri thức bản địa của người Tà ôi trong hoạt động sản xuất. Thông tin khoa học, Phân viện nghiên cứu văn hoá nghệ thuật miền Trung, số tháng 3 năm 2002. Thêm về chủ đề này:
Một số kinh nghiệm phát triển về tổ chức và các hoạt động của Trung tâm Phát triển nông thôn miền Trung
Một số kinh nghiệm trong xây dựng và nhân rộng các mô hình trình diễn có sự tham gia của nông dân
Kinh nghiệm xây dựng và phát triển các tổ chức cộng đồng (CBOs)
Đức Phú: Một mô hình thôn khuyến nông tự quản
Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp cho đồng bào dân tộc Cơ tu
Lồng ghép vấn đề giới vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển nông thôn
Kinh nghiệm trong việc tổ chức, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng dựa vào cộng đồng
Kinh nghiệm huy động sự tham gia của người dân vào các dự án phát triển: Bài học kinh nghiệm từ hoạt động xây dựng nhà Gươl ở xã Thượng Long
Tiến trình phân tích sinh kế bền vững cho người dân vùng cao ở Thừa Thiên Huế
|